Hướng tới kiểm soát phát thải khí nhà kính trên từng đơn vị sản phẩm
Chia sẻ tại Hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam” sáng 27/10, ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Quy định bắt buộc giảm phát thải sẽ ngày càng chặt chẽ hơn, hướng tới áp dụng định mức phát thải trên từng đơn vị sản phẩm, đặc biệt với các ngành thâm dụng năng lượng.
Kiểm kê khí nhà kính trở thành nghĩa vụ của doanh nghiệp
Theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển có nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính từ sau năm 2020. Trong nước, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định về công tác ứng phó biến đổi khí hậu, trong đó có giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tổ chức, phát triển thị trường carbon. Các nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của bộ, ngành tiếp tục cụ thể hóa những quy định này.
Tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) năm 2021, Việt Nam đưa ra cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Theo ông Huy, đây là cam kết chính trị mạnh mẽ, tạo động lực để Việt Nam triển khai các chính sách giảm phát thải sâu rộng hơn.
Việt Nam đã thực hiện kiểm kê khí nhà kính quốc gia từ các năm 1994, 2000, 2005, 2010, 2013 và 2014. Từ năm 2014, hoạt động kiểm kê được thực hiện định kỳ hai năm một lần theo các yêu cầu quốc tế. Một bước chuyển quan trọng là việc đưa kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các cơ sở phát thải lớn. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đã tạo cơ sở cho việc triển khai quy định này.
Theo ông Huy, lần đầu tiên cơ quan quản lý áp dụng nghĩa vụ pháp lý bắt buộc về kiểm kê khí nhà kính với doanh nghiệp. Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 3 quyết định về danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê vào các năm 2022, 2024 và 2026; với danh mục gồm hơn 2.000 cơ sở. Việc kiểm kê giúp doanh nghiệp xác định lượng phát thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó có cơ sở xây dựng phương án giảm phát thải phù hợp. Đây cũng là bước chuẩn bị quan trọng khi Việt Nam chuyển sang quản lý phát thải bằng hạn ngạch và các công cụ kinh tế.
Cùng với kiểm kê, khung chính sách về năng lượng và thị trường carbon đang tiếp tục được hoàn thiện. Sau COP26, Việt Nam xây dựng Quy hoạch điện VIII, được phê duyệt tại Quyết định số 500/QĐ-TTg và tiếp tục được điều chỉnh để phù hợp với định hướng phát triển kinh tế, năng lượng.
Các đại biểu quan tâm đến những bước tiến trong triển khai cam kết tại COP 26 của Việt Nam. Ảnh: Tùng Đinh.
Trong lĩnh vực thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam xây dựng khung pháp lý cho sàn giao dịch hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.
Sàn giao dịch đã bắt đầu vận hành thử nghiệm từ tháng 6/2026, tiếp tục được thí điểm để hoàn thiện quy định và cơ chế vận hành. Khi được triển khai đồng bộ, thị trường carbon sẽ tạo thêm công cụ kinh tế để doanh nghiệp lựa chọn phương án giảm phát thải phù hợp với điều kiện sản xuất.
Áp lực từ thị trường quốc tế
Theo ông Lương Quang Huy, Việt Nam đang chuyển từ cách tiếp cận khuyến khích giảm phát thải sang cơ chế quản lý chặt chẽ hơn, từng bước áp dụng quy định bắt buộc và phân bổ hạn ngạch phát thải.
Nếu trước đây, nền kinh tế phát triển theo hướng thâm dụng tài nguyên và năng lượng thì hiện nay, yêu cầu đặt ra là phải từng bước tách rời tăng trưởng kinh tế khỏi sự gia tăng lượng phát thải khí nhà kính. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
Thực tế, Việt Nam đã thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải đối với ba nhóm ngành gồm nhiệt điện, sản xuất thép và xi măng. Đây đều là những ngành có lượng phát thải lớn, đồng thời có tiềm năng ứng dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon.
Cùng với yêu cầu trong nước, doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn từ thị trường quốc tế. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu cùng các cơ chế tương tự đang được một số quốc gia xem xét khiến các ngành sắt thép, xi măng, phân bón, nhôm và những ngành phát thải lớn khác phải quan tâm nhiều hơn đến lượng phát thải trong quá trình sản xuất. Các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) từ tập đoàn quốc tế, nhà nhập khẩu và chuỗi cung ứng cũng buộc doanh nghiệp trong nước phải minh bạch thông tin và kiểm soát tốt hơn dấu chân carbon của sản phẩm.
Trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ từng bước xây dựng, ban hành các định mức phát thải hoặc giới hạn carbon trên từng đơn vị sản phẩm. Khi những yêu cầu này được áp dụng, khả năng kiểm kê, báo cáo và giảm phát thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
CCUS còn nhiều rào cản về vốn, công nghệ và nhân lực
Công nghệ CCS và CCUS được kỳ vọng góp phần giảm phát thải tại các ngành khó giảm sâu lượng phát thải, như dầu khí, khai thác than, sản xuất thép và xi măng. Tuy nhiên, chi phí đầu tư lớn là một trong những rào cản đáng kể.
Theo ông Huy, nhu cầu vốn cho giảm phát thải nói chung và CCUS nói riêng rất lớn. Chỉ một thiết bị bơm phục vụ ép CO2 cho dự án quy mô trung bình cũng có thể tiêu tốn hàng trăm triệu USD. Ngoài chi phí thiết bị, các dự án còn cần công nghệ phù hợp, hệ thống truyền tải CO2 và hạ tầng lưu trữ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Các đại biểu tham gia Hội thảo do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) tổ chức. Ảnh: Tùng Đinh.
Về nhân lực, Việt Nam còn thiếu nhân lực chất lượng cao, cả về kỹ thuật vận hành, quản lý dự án và xây dựng cơ chế chính sách. Bên cạnh đó, quá trình chuyển dịch cần tính đến nhận thức của cộng đồng và yêu cầu bảo đảm công bằng giữa các ngành, địa phương, nhóm lao động chịu tác động.
Đại diện Cục Biến đổi khí hậu nhấn mạnh, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng thể chế và chính sách tương đối tốt so với các quốc gia có cùng trình độ phát triển. Dù vẫn cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định và hoàn thiện cơ chế thực hiện, quá trình quản lý phát thải đang từng bước chuyển từ xây dựng chính sách sang triển khai các công cụ cụ thể.
Mục tiêu Net Zero vào năm 2050 đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ năng lượng, công nghiệp đến nông nghiệp, lâm nghiệp và chất thải. Trong đó, CCS và CCUS dù có chi phí cao nhưng có thể trở thành động lực quan trọng để các ngành phát thải lớn thay đổi công nghệ, giảm lượng phát thải và nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế.